Cách làm: - Đậu phộng rang sẵn mua về đập nhỏ. - Lấy riêng một chén dừa nạo để phủ lên mặt kem. Số còn lại cho khoảng 1,7 lít nước vào vắt lấy nước cốt. - Lá dứa rửa sạch cắt nhỏ, cho ít nước vào xay nhuyễn, lọc lấy nước cốt. - Lấy vài bông hoa đậu biếc Theo đó, trên cơ sở kết quả thực hiện năm 2021, Bình Thuận sẽ phấn đấu mỗi năm phát triển bình quân trên 1% dân số tham gia BHYT, phấn đấu đến năm 2025 đạt 95% dân số. Cụ thể, tỷ lệ bao phủ BHYT của toàn tỉnh là 91,5% vào năm 2022, 92,25% vào năm 2023, 93,55% vào năm 2024 Hoa lá ngón thường nở vào tháng 6, 8, 10 và có màu vàng với 5 cánh. Quả của lá ngón có màu nâu, thon dài, rộng khoảng 0,5 cm, không có lông bao quanh. Hạt lá ngón khá nhỏ, có màu nâu nhạt. Ở các cành non, lá sẽ có màu xanh lục nhưng khá nhạt. Đến giai đoạn già, lá sẽ chuyển dần sang màu xám nâu nhạt. Lá ngón ăn được không?. Với gia đình tôi, đây cũng là lúc chuẩn bị lôi chiếc nồi bánh chưng khổng lồ ra chà rửa, đặt trước nếp, đậu, lá dong để gói bánh. Theo thông lệ, nhà tôi thường gói tầm khoảng 180 chiếc bánh với chi phí vào khoảng hơn 10 triệu bao gồm phí mua các nguyên vật liệu cơ Phụ lục IV Nghị định 136/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật phòng cháy và chữa cháy và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật phòng cháy và chữa cháy. PHỤ LỤC IV. DANH MỤC CƠ SỞ DO ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ QUẢN LÝ. . Lá số Tứ trụ chỉ thẳng cho chúng ta biết đâu là ngũ hành chi phối đến mệnh của một người, trong mệnh của người đó có bị thiếu, khuyết ngũ hành nào hay không. Ưu điểm của lá số Tứ trụ Chính vì sự phức tạp trong mối tương quan ngũ hành trong Tử vi, nên Tứ trụ lại có ưu việt riêng và được ứng dụng vào phong thủy sâu hơn Tử vi. Bởi lá số Tứ trụ chỉ thẳng cho chúng ta biết đâu là ngũ hành chi phối đến mệnh của một người, trong mệnh của người đó có bị thiếu, khuyết ngũ hành nào hay không. Ngũ hành nào vượng, ngũ hành nào suy. Ngoài ra, còn được phân định theo các vận khác nhau. Từ đó, chúng ta có thể biết được chính xác ngũ hành bản mệnh của một người cần bổ sung thêm những ngũ hành gì và điều tiết bớt ngũ hành gì, dùng màu sắc nào hợp, phương vị nào tốt để kê giường, đặt bàn làm việc… Đó cũng là cách để biết hai người có hợp ngũ hành hay không phải giải lá số của cả hai và cân đo, đong đếm ngũ hành trên toàn lá số. Tiếp nữa, người ta phải tính các mối tương tác như hợp, xung hay phá của cả 4 Thiên can và 4 Địa chi của 2 lá số, rồi mới khẳng định được hai người hợp hay không, và hợp thì ở mức độ nào. Ngoài ra, khi lập lá số Tứ trụ, tổng số lượng các sao để lập lá số cũng trên 100 sao, không ít hơn các sao trong lá số Tử vi. Nhưng Tứ trụ chỉ tính toán những sao nào tương tác trực tiếp theo mệnh, vận và tiểu vận chứ không giống Tử vi là có bao nhiêu sao thì án hết lên lá số. Khi luận đoán lá số Tứ trụ, người ta luận đoán tập trung sâu về chính người sở hữu lá số. Từ đó, đưa ra các định hướng về tương lai nghề nghiệp, về phương thức hóa giải, những vấn đề chuyên sâu về con người như hợp nghề nào, làm ăn tuổi nào hợp, màu sắc hợp, năm đẹp để sinh con… Trong lá số Tứ trụ cũng có phần luận về cha mẹ, anh chị em, con cái, giống như Tử vi, nhưng nếu thầy phong thủy không phải ở cảnh giới cao, thì sự luận đoán có tỷ lệ ứng nghiệm thấp. Do đó, nên hạn chế xem, vì bố mẹ cũng đã có lá số riêng và vợ chồng mỗi người cũng có lá số riêng, con cái là kết quả hay nhân quả của phúc phần gộp lại của cả dòng họ nhà chồng, nhà vợ, nên đối tượng kết hôn khác nhau, thì con cái cũng khác nhau. Nếu bảo rằng, từ lá số của một người nam hay nữ chưa lập gia đình mà luận về đường con cái thì độ khớp rất ít. Đúc rút xung quanh lá số Tử vi và Tứ trụ Cả hai lá số này đều luận tới những bộ sao chủ mệnh và chi phối mệnh mỗi người, từ đó có thể định lượng ra cuộc đời người đó sẽ thế nào, nói lên con người đó có tài năng gì, ngành nghề phù hợp, độ thành công của cuộc đời đến đâu, mệnh thế nào. Căn cứ vào các độ vượng, suy chính là đánh giá về vượng địa, miếu địa, đắc địa, hãm địa trong Tử vi của các sao mà đánh giá. Việc phân định được sao nào vượng cỡ nào, suy cỡ nào phụ thuộc vào đẳng cấp luận đoán của một người thầy. Với bộ sao xấu chi phối cuộc đời một người như Tai sát, Kiếp sát, Kình Dương, Thiên la, Địa võng, Cô thần Quả tú… hãm địa, nhưng trong mệnh người ta có các bộ sao tốt như Phúc tinh hay Thiên đức, Nguyệt đức mà vượng, thì dù có gặp hạn vẫn cứ được giải cứu. Còn ngược lại, những bộ sao tốt không vượng hoặc độ vượng chỉ ở mức trung bình, mà những sao xấu lại rất vượng, có lực, thì người đó gặp rất nhiều chướng họa mà sự giải cứu không đáng là bao, thì cuộc sống chịu nhiều tai ương. Luận lá số thế nào? Từ lá số, chúng ta luận theo nguyên lý như sau Người muốn làm quan thì phải có sao Quốc ấn sáng và vượng, không bị xung phá thì mới phù hợp phát triển theo đường quan lộ nên đi làm cho Nhà nước hay các cơ quan tổ chức lớn. Những người muốn làm bác sĩ giỏi, thì trong mệnh sao Thiên y cũng phải rất sáng, là sao vượng. Những người làm thầy giỏi thì bộ sao Thiên khôi, Thiên việt cũng phải sáng, vượng. Những người làm thầy ở đây được xếp vào những ngành nghề như giáo viên, luật sư, bác sĩ, người làm tham mưu hay thư ký, kể cả những người làm thầy phong thủy, Tử vi, tướng số… Còn những người muốn làm kinh doanh, thương mại, thì chắc chắn trong mệnh số sao Lộc phải sáng. Những người là nghệ sĩ tài năng, trong mệnh chắc chắn sao Hoa Cái rất sáng. Những người làm về kế toán, kiểm toán, hay quản lý về giấy tớ văn bản thì sao Văn xương đương nhiên cũng sáng. Ngoài ra, còn nhiều tiêu chí khác, cộng với việc không chỉ có một hay vài sao chi phối trong mệnh, mà có nhiều sao. Cho nên, một người thầy giỏi mới có thể khẳng định đúng, đưa ra được những thông tin có trọng lượng và uy tín. Nhìn nhận về thầy lá số Nếu chúng ta quá tin vào một người thầy, mà thầy này định hướng sai cho chúng ta, thì cái sai theo lộ trình đó tới 10 - 20 năm khó có thể sửa chữa được. Tiền bạc thì có thể làm ra được, nhưng cuộc đời thì không thể đánh đổi lại được. Chẳng hạn, nếu chúng ta không có duyên trên đường quan trường, mà cứ cố bằng mọi cách, mọi giá thì sau 20 năm, cuộc đời đã an bài và chẳng còn gì để nói. Trong khi nếu mệnh số rất duyên về con đường thương mại, có khi chỉ vài năm, người đó đã rất thành công và giàu có. Có hiện tượng, khi chúng ta đi xem lá số, thường các thầy dựa vào tâm lý và cho biết sang năm sẽ thế nọ, thế kia, thường nói về tương lai rất thuận, rất hay theo tâm lý mong cầu của nhiều người, khiến nhiều người chạy theo tâm lý viển vông đó, nhiều người cũng quên mất việc đặt ra cho mình những câu hỏi là thầy giỏi hay không, nói đúng hay không. Trong khi thầy giỏi về lá số phải nói đúng chuẩn, khớp về quá khứ thì mới nên tin khi nghe nói về tương lai. Một người thầy giỏi, họ rất tự tin, sẵn sàng luận cho bất kể người nào về lá số. Khi đi xem, chúng ta không chỉ hỏi mỗi lá số của chúng ta, mà hỏi cho cả vợ chồng, thậm chí để chuẩn xác hơn nữa, nên hỏi cho bố mẹ và cho những người nhiều tuổi. Khi thầy nói về những người nhiều tuổi có độ chính xác trên 70%, 30% còn lại không phải là những luận đoán sai mà thuộc kiểu 50/50, là những điều còn phải suy ngẫm thì chúng ta có thể tin được. Về trình tự, khi nhờ các thầy xem lá số, thì phải bắt đầu từ các sự việc trong quá khứ, rồi khi các kết quả luận đoán đáng tin tưởng, chúng ta mới hỏi về tương lai, chứ không phải đến chỗ thầy là hỏi ngay tương lai thế nào và định làm gì sắp tới, có thành công hay không? Vì hỏi vậy, thầy hay dựa vào để nói, không có cơ sở để đánh giá chính xác. Những vấn đề khác Như đã nói ở trên, lá số có thể chỉ ra đến 70% vận mệnh một đời người đã là tỷ lệ cao rồi, còn 30% còn lại thuộc về việc vận dụng phong thủy, làm việc tâm đức, tu thân, dưỡng tính… Với trường hợp những người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ thì cuộc đời, số phận của họ theo một ba-rem giống nhau, nhưng biên độ, sự tương tác sẽ khác nhau. Với trường hợp này, khi luận giải lá số cho 2 người, đương nhiên là cùng một kết quả, nhưng cuộc đời mỗi người lại vẫn khác nhau. Nguyên nhân là vì họ sinh ra trong dòng họ khác nhau, có phúc phần của dòng họ cùng với thịnh suy của phần mộ là khác nhau, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế gia đình khác nhau. Đơn giản, vì bố mẹ khác nhau, nên gien di truyền cũng khác nhau, trí tuệ khác nhau. Độ ảnh hưởng do tuổi của bố, của mẹ và của anh chị em tương tác vào cuộc đời mỗi người khác nhau. Ngoài ra, người phối hôn khác nhau sẽ ảnh hưởng đến thịnh suy khác nhau. Thậm chí, phúc phần và điều kiện gia đình của người phối hôn khác nhau, rồi việc làm thiện hay bất thiện cũng thay đổi cuộc đời. Có nhiều người làm việc bất thiện nhỏ, nghĩ rằng việc đó không ảnh hưởng gì. Đúng là việc đó sẽ không bị pháp luật trừng phạt, nhưng nhiều việc như vậy sẽ tổn hại “đức” và sẽ làm hao tổn phúc phần, gia đình khó giàu lên, con cái không thành đạt, kiếm trác nhiều tiền bao nhiêu cũng bị hao việc nọ và tốn vào việc kia. Vì vậy, mới có câu “đức năng thắng số”, chứ không nói “đức năng thắng Thiên”. Bởi nếu biết vận hành và làm việc tâm đức, thì có thể cải số cho tốt lên, nhưng với số mệnh thì vẫn tính theo lá số. Đó là những người không hề có cuộc sống gia đình vợ chồng, mặc dù có thể họ rất khao khát, kiếm tìm người phối ngẫu nhưng rốt cuộc vẫn phải chấp nhận cảnh chăn đơn gối chiếc. Nguyên nhân dẫn đến cảnh “trai không vợ, gái không chồng” thì nhiều nhưng không có sách nào nói cụ thể về trường hợp không vợ không chồng sẽ biểu hiện như thế nào trên lá số nên người viết hỉ mạo muội nêu ra một số điểm cần lưu ý Mệnh Thân có Cô Thần, Quả Tú đúng cách nam Cô nữ Quả trong khi Mệnh Thân lại hội họp quá nhiều sao bại tinh, cô độc khác. Cung Tử Tức tụ tập nhiều sao hiếm muộn, tuyệt tự, lập tự. Cung Phu Thê rơi vào trường hợp hoặc chính tĩnh hãm địa, đi chung với các sao tình duyên bị ám sát tinh xâm phạm, hoặc Cô, Quả hội tụ cùng các sao bất lợi, nghịch cảnh về cuộc sống gia đạo. Cung Phúc xấu, với trường hợp hoặc chính tinh hãm địa, hội tụ với các sao tình dục bị sát tinh xâm phạm, hoặc Tuấn, Triệt đồng cung, hoặc hội tụ các sao chỉ sự cô độc, bất hạnh về gia đạo. Lá Số Tử Vi điển hình của người không lập gia đình Xem số “gái già trai muộn” rất khó vì trường hợp không vợ không chồng trong xã hội tương đối hãn hữu và lý do để không có cuộc sống vợ chồng cũng khá phức tạp, có thể là người đồng tính luyến ai, có thể là người cận tình dục thờ ơ, thậm chí còn sợ phải quan hệ tình dục với bất kỳ giới tính nào, có thể là người bạn phải trục trặc nào đó về cơ quan sinh dục hoặc rối loạn về chức năng tình dục,… nên việc giải đoán rất dễ sai lạc. Chỉ khi nào lá số biểu hiện đầy đủ, cơ bản những điểm bất lợi trên thì mới nên quyết đoán tình trạng không vợ không chồng của đương số. Trong thực tế, để có những lá số biểu hiện rõ ràng như vậy rất hiếm gặp, vì thế những điểm lưu ý trên cần phải được cân nhắc cẩn thận rồi mới đưa ra lời giải đoán. Home Tử vi Thứ 7, 4/6/2022 - 2333 Lá số không kết hôn sẽ giúp bạn giải quyết nhiều vấn đề. Theo nhà Đẩu Số - Nguyễn Phát Lộc thống kê thì họa cho gia đạo rất nhiều hình thái. Nặng thì vợ chồng mất sớm, nhẹ hơn thì ly hôn, đứt gẫy giữa đường, nhẹ hơn nữa là tình trạng hình khắc, cãi vã... Trong những hình thái đó thì việc không lập gia đình cũng được coi là bất hạnh trong gia đạo. Bởi lẽ “Gia đình là tế bào của xã hội”. Tế bào có mạnh thì xã hội như một cơ thể mới bền vững được. Xem lá số tử vi năm 2022 của 12 con giáp chi tiết TRA CỨU TỬ VI 2022 Bạn vui lòng nhập chính xác thông tin của mình! Trong quan hệ luân thường đạo lý thì quan hệ gia đạo được xếp thứ ba trong năm mối quan hệ quan trọng của con người ở một xã hội. Năm mối quan hệ này bao gồm Vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn bè. Những người lập gia đình sẽ bỏ khuyết đi một trong năm mối quan hệ kể trên và đi ngược lại quy luật âm dương trong xã hội. I - Lá số tử vi không kết hôn điển hình Đầu tiên, chúng ta hãy tìm hiểu một lá số điển hình về tình trạng trên, từ đó rút ra những kiến thức cơ bản về mảng đề tài này. Nam mệnh sinh 8h ngày 17. 10. 1991. Lá số có mệnh lập tại Ngọ gặp các sao Tử Vi, Tiểu Hao, Đại Hao, Hóa Kỵ, Đào Hoa, Hồng Loan, Linh Tinh, Thiên Khôi, Thiên Việt. Cung Thân cư Tài Bạch gặp các sao Vũ Khúc, Thiên Tướng, Đường Phù, Tấu Thư... 1 - Nghiệm lý về mức độ khả tín của lá số không kết hôn Lá số này có đặc điểm đó là học kém, ham chơi, mê rượu bia, hưởng thụ, tiệc tùng, chịu không ít tai tiếng về đạo đức vì cung mệnh có Tử Vi nhưng thiếu các sao Trường Sinh, Đế Vượng, Quan Đới để tăng cường khí lực. Ngược lại, ngôi Tử Vi này lại gặp nhiều sao mang tính chất ăn chơi, hưởng thụ sa ngã, cộng với việc đại vận đi theo chiều hướng bất lợi, sang đại vận thứ hai gặp Địa Không, Địa Kiếp hãm địa mà hai sát tinh này tối kỵ với sao Tử Vi. Chính vì các đặc điểm này nên đương số nghỉ học sớm, sa đọa, a dua, chơi bời, công danh thấp kém. Về họ hàng thì đương số sinh vào thời điểm sự nghiệp của cha mẹ có chiều hướng đi xuống, khó khăn về kinh tế, mâu thuẫn bất hòa, cãi vã liên miên. Trong họ hàng có nhiều người học hành đỗ đạt khoa bảng nhưng bản thân đương số nghỉ học sớm lại có biểu hiện nghiện rượu, sử dụng chất kích thích, ma túy, chất hướng thần gây ảo giác... Về vận hạn Năm 2006 hạn về cung Quan Lộc, cung Thiên Di gặp các sao Tài tinh và sát tinh kèm theo hội tụ nên năm này đương số mang toàn bộ số tiền nộp học giấu cha mẹ, ăn chơi hết. Sau đó đương số bị tai nạn giao thông dẫn đến gãy tay, bị thương tích ở mặt. ứng với các sao Kình Dương, Liêm Trinh, Hóa Kỵ, Kiếp Sát... Năm 2011, hạn về cung Tử Tức gặp các sao báo hiệu hạn sinh con nên ứng nghiệm trong thực tế đó là chơi bời bồ bịch, quan hệ trước hôn nhân dẫn đến việc mang bầu, sinh con. Từ đó, đương số trở thành bà mẹ đơn thân, không kết hôn, chỉ bồ bịch trăng gió vớ vẩn Như vậy, lá số kể trên có nhiều đặc điểm ứng nghiệm nên ta khẳng định với nhau đây là một lá số chuẩn giờ sinh. 2 – Bàn về cách cục không lập gia đình từ lá số này Ta xét thấy cung Phu Thê của đương số rất xấu, có Thất Sát hãm địa đắc Triệt nhưng sát tinh hội tụ trong đó có Kình Dương, Đà La, Kiếp Sát. Ngoài ra còn có các sao khác như Cô Thần, Quả Tú, Thiên La, Địa Võng... Như vậy, nhìn vào đây ta thấy rõ được sự hình khắc, bất hòa, kém phúc trong gia đạo. Đặc biệt, Thất Sát là sao chỉ hình pháp, cùng với các sao Cô Thần, Quả Tú thì tính chất hình khắc, bạc duyên, vô duyên càng tăng lên. Mệnh đương số gặp nhiều các sao có tính chất sa đọa, ăn chơi, không làm chủ được bản thân, đa tình, lại ham hưởng thụ dật lạc nên vì thế trong quá trình yêu đương tìm hiểu cũng khó giữ lòng chuyên nhất. Cung Thân đương số có Vũ Khúc, sao này tuy chỉ về tiền bạc, tài sản nhưng nó hóa khí thành sao quả tú, cô độc, hình khắc người thân. Lá số này còn có cách cục được quý nhân phò tá, tuy nhiên do bản thân không chịu cố gắng nên mọi sự giúp đỡ của người thân đương số đều mang lợi dụng để kiếm tiền tiêu xài, hưởng thụ, lâu dần người thân cũng sẽ mất niềm tin, không muốn giúp đỡ đương số nữa. Một điều đáng lưu ý khác đó là đại vận của đương số đi về phía các sao hung tinh, sát tinh rất mạnh. Đại vận thứ hai gặp các sao Cự Môn, Thiên Đồng, Địa Không, Địa Kiếp, Phục Binh... cho nên có thể nói rằng trong thời kỳ đáng lý phải học tập, phát triển thì đương số đã không thắng nổi những cám dỗ và cuối cùng nghỉ học, sa đọa. Sang đại vận thứ 3 gặp sao Phá Quân – đây là sao có tính biến động mạnh, chính vì cuộc sống lưu lạc, nay làm chỗ này, mai ngày kia nghỉ làm đi làm chỗ khác, có được tiền bạc cũng phung phí vào việc chơi bời nên chắc chắn không một chàng trai nào muốn cưới cô ta cả. Và đây là một lá số điển hình về tình trạng bà mẹ đơn thân, không lập gia đình. Tham khảo công cụ Xem lá số tử vi trọn đời bên dưới II - Đặc điểm, cách cục của lá số tử vi không kết hôn Từ đó cho thấy, lá số không kết hôn thường có một số đặc điểm cơ bản như sau 1 - Về lý do sức khỏe Một số người vì vấn đề sức khỏe họ sẽ không lập gia đình để đảm bảo không kéo theo người khác lâm vào cảnh ngộ bất hạnh. Một số bệnh đáng kể như bệnh đồng tính, nghiện hút, bệnh xã hội AIDS, sức khỏe sinh sản giới tính, hay như một số người bị nhiễm hóa chất có thể di truyền những nguồn DNA bất lợi nên họ chọn cuộc sống độc thân để tránh gây đau khổ cho người khác 2 - Về lý do gia đình – xã hội Một số người chứng kiến cảnh quan hệ gia đạo của cha mẹ họ bất hòa, mâu thuẫn liên miên nên từ đó họ cảm thấy nguội lạnh tâm ý về chuyện kết hôn Về lý do nhận thức tư duy Nhiều người vì đam mê sự nghiệp hay có khuynh hướng tu hành, giác ngộ đạo lý nên họ chọn con đường không kết hôn mà chuyên tâm vào sự nghiệp, con đường mà họ đã lựa chọn. Nhiều vị cao tăng đắc đạo, các nhà khoa học, hay các nguyên thủ vĩ đại đã lựa chọn con đường này 3 - Về góc độ Tử Vi Mệnh, Thân gặp các sao mang tính chất cô độc, hình khắc bất lợi cho gia đạo như Vũ Khúc, Thất Sát, Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân, Thiên Hình, Bạch Hổ, Tang Môn... khi hội hợp các sao này càng mạnh thì tính chất hình khắc sẽ càng gia tăng. Vì cô độc, không hòa hợp người thân, sống nội tâm nên chọn con đường không kết hôn. Nhiều người trong các cung Mệnh, cung Thân gặp các sao Đào Hoa, Hồng Loan, Hóa Kỵ và sát tinh. Bộ sao Đào Hoa, Hồng Loan chỉ về nhan sắc, tình ái nhưng bị sát tinh xâm hại, Hóa Kỵ gia hội thì thường vô duyên, ít người quan tâm chú ý, hoặc thường phải đau khổ về tình cảm, gặp nhiều đối tượng không tốt, yêu đương tìm hiểu dẫn đến hảo sự tiêu ma, mộng đẹp tan tành mây khói. Cung Phu Thê gặp nhiều sao bất lợi. Đặc biệt các sao như Phá Quân, Thất Sát, Vũ Khúc và sát tinh cùng các sao hao bại tinh khác. Cung Mệnh, cung Thân có nhiều các sao ăn chơi, sa đọa như Đào Hoa, Hồng Loan, Tham Lang, Phá Quân, Tiểu Hao, Đại Hao, Thiên Trù... vì thế ham vui, mê chơi, không muốn lập gia đình gò bó bản thân. Đại vận gặp nhiều sao bất lợi. Đặc biệt là bộ Địa Không, Địa Kiếp, khi gặp bộ sao này chuyện hôn nhân gia đạo thường khó có kết quả tốt, khó tìm kiếm đối tượng để tiến tới hôn nhân. Mặt khác, do điều kiện kinh tế khi ấy còn nhiều khó khăn, vất vả nên vì vậy người ta không nghĩ tới vấn đề lập gia đình. Dần dà, cơ hội sẽ ngày càng ít đi và như vậy họ sống cuộc sống độc thân. III - Cách cục đặc biệt về lá số không lập gia đình Chúng ta có thể tìm hiểu thêm một lá số không lập gia đình của nam giới khác. Lá số ông Ngô Đình Diệm sinh giờ Hợi ngày 13. 05 năm Canh Tý âm lịch. Lá số này rất ứng nghiệm với hoàn cảnh gia thế và các vận hạn trong quá khứ của ông Xuất thân từ gia đình quan lại, nhiều người đỗ đạt khoa bảng, ứng với cung Phúc Đức có Thái Âm miếu địa, Hóa Khoa. Cung Phụ mẫu thì có Tử Vi, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Tướng Quân, Quốc Ấn, Hóa Quyền – cha của ông Diệm từng làm quan trong triều đình nhà Nguyễn khi xưa. Những người thân cư Phu Thê thường xem trong quan niệm gia đình. Thái Dương miếu gặp Triệt cùng với cung Phụ mẫu gặp sát tinh thì cha dễ mất sớm. Thực tế thì đúng là như vậy. Mệnh Thiên Cơ gặp sát tinh nên ông Diệm là người theo tôn giáo, ông được học giáo lý Thiên Chúa giáo từ nhỏ, khi lớn cũng tốt nghiệp trường dòng của Thiên Chúa giáo. Năm 1963 Quý Mão, đại vận, tiểu vận gặp nhiều sát tinh hạng nặng nên cuộc đảo chính của nhóm tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc lật đổ chế độ của ông và đưa ông cùng những người thân đi thủ tiêu. Ông Diệm là người không kết hôn xét trên góc độ Tử Vi Đẩu Số thì có hai nguyên nhân cơ bản Thứ nhất Thời kỳ trẻ tuổi, ông từng bị nhân tình phụ bỏ, ứng với các gặp Thái Âm, Hóa Kỵ, Kình Dương, Thiên Hình, Đào Hoa, Hồng Loan... ở đại vận thứ ba, sau đó cuộc sống của ông cũng gặp nhiều biến cố lớn nên từ đó ông không có điều kiện để tìm hiểu, lập gia đình Thứ hai Ông Diệm với mệnh cách Thiên Cơ gặp sát tinh nên có khuynh hướng theo tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và niềm tin cùng với mong muốn thoát tục cống hiến trọn đời cho niềm tin, lẽ sống ấy. Và từ đó dẫn đến việc từ bỏ ham muốn về cuộc sống gia đình. Mặc dù Thân cư Phu Thê là người xem trọng quan niệm gia đạo nhưng ông dành tình cảm này để quan tâm tới những người thân khác chứ không lập gia đình riêng. Trên đây là tất cả cách cục và đặc điểm của lá số không kết hôn, không lập gia đình. Để khám phá xem người thân của mình có cách cục này hay không thì bạn phải làm 2 việc. Thứ nhất là lấy lá số tử vi của người đó, thứ hai là đối sánh với các cách cục này. Để lấy lá số tử vi có bình giải chi tiết và miễn phí, mời bạn nhập đầy đủ thông tin để có kết quả tốt nhất Vậy một lá số tử vi không lập gia đình ở phụ nữ có điều gì đặc biệt? Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng đến lúc phải lấy chồng gả vợ. Tuy nhiên, vẫn có một vài trường hợp đặc biệt mà người phụ nữ không lấy chồng như giác ngộ đi tu, bệnh tật…Mời quý bạn tham khảo những bình giải chi tiết về lá số phụ nữ không lấy chồng sau đây. Xưa nay, việc thành gia, lập thất là một việc đại sự trong đời người. Vũ trụ có âm dương, càn khôn có nhật nguyệt thì cuộc sống con người có phu phụ, vợ chồng. Nho giáo đưa quan hệ vợ chồng vào ngũ luân – tức là năm mối quan hệ trong xã hội bao gồm vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn bè Đại đa số mọi người đều tiến hành kết hôn, lập gia đình, xây dựng hạnh phúc riêng. Tuy nhiên, vẫn sẽ có một số ít trường hợp không lập gia đình. Lá số tử vi không lấy chồng, lập gia đình là mối quan tâm, tìm hiểu của rất nhiều người. Vậy thì, lá số nữ mệnh không lập gia đình sẽ có những biểu hiện đặc trưng ra sao? Bình giải lá số tử vi không lấy chồng qua các ví dụ Lá số không lập gia đình thường có ba nguyên nhân và các biểu hiện sau đây Lá số tử vi không lấy chồng của người phụ nữ có bệnh Thứ nhất Nữ mệnh không lập gia đình vì điều kiện sức khỏe Trong cuộc sống, chúng ta gặp không ít những trường hợp nữ mệnh không lập gia đình vì vấn đề về sức khỏe. Sau đây lá số tử vi không lấy chồng của một người phụ nữ có bệnh. Điển hình có một số loại bệnh sau đây dẫn tới tình trạng trên. * Người bị bệnh thần kinh, không có ý thức, mất kiểm soát về hành vi. Đối với trường hợp này thì các cung Mệnh, cung Thân, cung Tật thường có những cách cục các sao chủ về thần kinh mà bị sát tinh xâm phạm. Cụ thể là – Thiên Cơ hãm địa gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp. – Sao Thái Dương, Thái Âm hãm địa gặp sát tinh, ám tinh Đà La, Hóa Kỵ, Thiên Riêu, Kình Dương. – Sao Phá Quân hãm địa gặp các sao Hỏa Tinh, Linh Tinh… Những cách cục này hội tụ trong cung Mệnh, cung Thân, cung Tật Ách báo hiệu tình trạng rối trí, tâm thần, mất kiểm soát nên vì thế không kết hôn, lập gia đình. * Trường hợp bị bệnh đồng tính. Đối với trường hợp này thường biểu hiện qua các cung Mệnh, cung Thân, cung Tật Ách. Điển hình nhất là cung Tật Ách của nữ mệnh có sao Thái Dương, báo hiệu tình trạng hoocmon nam tăng vượt mức cho phép, rối loạn nội tiết tố, cung Mệnh gặp ám tinh biểu hiện hành động mờ ám, che dấu thực trạng sức khỏe của bản thân. Ngày nay, nhiều người bị bệnh đồng tính và không kết hôn chiếm tỷ lệ khá cao. * Trường hợp nữ mệnh bị bệnh vô sinh. Nhiều người khi biết bệnh tình của bản thân không có khả năng làm mẹ cũng sẽ không kết hôn, lập gia đình vì sợ rằng cuộc sống gia đạo không hạnh phúc. Trong trường hợp này thì cung Tử Tức xấu, sao Thái Âm, Thiên Đồng hãm địa gặp nhiều sát tinh – Thái Âm chủ về sức khỏe sinh sản của nữ giới và khả năng làm mẹ. Sao Thiên Đồng – chủ về tiểu nhi, ứng với nữ giới là sức khỏe sinh sản và khả năng sinh con. Lá số tử vi không kết hôn của của nữ mệnh do gia đạo Thứ hai Nữ mệnh không lập gia đình vì gia đạo bất hạnh Nữ mệnh không kết hôn do gia đạo bất hạnh biểu hiện cuộc sống hôn nhân của song thân phụ mẫu và người xung quanh không hạnh phúc, tuổi thơ đầy nước mắt, bi ai dẫn tới cảm giác không an tâm khi kết hôn, lập gia đình và họ không có nhu cầu nói trên Khi dự đoán tình trạng này cần lưu ý các cung Mệnh, Thân, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Phu Thê và qua các vận. Đặc biệt trong đại vận thứ ba thì dù đại vận đi thuận chiều Kim Đồng Hồ sẽ tới cung Phúc Đức tam chiếu cung Phu Thê. Nếu đại vận đi ngược chiều Kim Đồng Hồ sẽ tới cung Phu Thê. Nếu như sát tinh hội tụ quá nhiều thì hỷ sự khó thành, qua khỏi đại vận này thì vì lí do tuổi tác, thời gian khiến họ sẽ không còn nhu cầu kết hôn, lập gia đình nữa. Lá số tử vi không lấy chồng do giác ngộ tu hành Thứ ba Nữ mệnh không lập gia đình vì giác ngộ tôn giáo, tu hành Có nhiều trường hợp nữ mệnh không kết hôn vì hoàn cảnh bản thân có duyên tu đạo, giác ngộ sâu sắc. Nhiều thầy tâm linh thường dùng cụm từ là có căn tu, con của thần thánh, tiên phật… Họ đắm chìm trong tôn giáo, đạo lý, say mê kinh kệ, rũ bỏ trần ai, xa lìa thế tục, không còn thất tình lục dục, nên dành cả cuộc đời vào việc tu hành, phụng thờ thần, thánh, tiên, phật, các đấng tối cao, linh thiêng Trong cách cục của nữ mệnh tu hành thường hội tụ các sao tâm linh ở cung Mệnh, cung Thân, cung vận. Các sao tâm linh thường thấy bao gồm như sau – Sao Thiên Cơ Sao này là cỗ máy huyền vi của tạo hóa, chỉ về khả năng tâm linh, ngộ đạo, tu hành rất cao – Sao Thiên Đồng Sao này rất nặng tâm tín ngưỡng, dành cuộc đời vào việc tu hành, phụng thờ thần thánh – Bộ sao Thái Âm, Thái Dương hãm địa – đây cũng là cách cục của người tu hành, ngộ đạo – Các sao tâm linh khác bao gồm + Bộ sao Tứ Linh Long Trì, Phượng Các, Hoa Cái, Bạch Hổ + Thiên Không, Hồng Loan + Ân Quang, Thiên Quý + Thiên Quan, Thiên Phúc Những sao này hội tụ tại cung Mệnh, Cung Thân, và Đại Vận thì báo hiệu cơ duyên tu hành, giác ngộ cao, nên vì thế đi theo con đường tu đạo, không kết hôn, lập gia đình. Như vậy, tổng hợp những cách cục nữ mệnh không lập gia đình thường thấy các biểu hiện sau đây. – Về các cung Cung Mệnh, cung Thân, Cung Tật Ách và cung Đại Vận thứ ba không cát lợi, báo hiệu sức khỏe, tâm lý và cuộc sống bất ổn, dẫn tới không kết hôn. Cung Phu Thê, cung Phúc Đức, cung Thiên Di, cung Tử Tức xấu ứng với gia đạo bất hòa, không kết hôn, không sinh con cháu. – Về các sao Các sao báo hiệu tình trạng không kết hôn đối với nữ mệnh thường biểu hiện như sau. + Sao Phá Quân hãm địa gặp sát tinh. + Bộ sao Thái Âm, Thái Dương hãm địa gặp ám tinh, sát tinh. + Bộ sao tình duyên lỡ dở Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ gặp Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ… chỉ sự vô duyên, trắc trở, hỷ sự không thành. + Bộ sao báo hiệu sự cô độc, hình khắc Liêm Trinh, Vũ Khúc, Thất Sát, Đẩu Quân, Thiên Hình, Cô Thần, Quả Tú, Bạch Hổ, Tang Môn… hội tụ tại cung Mệnh, cung Thân, đại vận thứ ba. + Bộ sao Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Đức, Phúc Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Thiên Không, Hồng Loan… hội tụ tại Mệnh, Thân, vận báo hiệu cơ duyên tu đạo, lánh xa hồng trần. Tổng kết lá số tử vi không lấy chồng của nữ mạng Nhiều người lo lắng chuyện nữ mệnh không kết hôn và có xu hướng tìm hiểu kỹ về cách cục này. Nguyên nhân nằm ở chỗ nữ mệnh có gia đình thì cuộc sống đỡ vất vả, lo toan, lao đao hơn so với nam giới, về già cũng cần có người chăm sóc. Tuy nhiên, có những người rất khó kết hôn, lập gia đạo, và cuối cùng sống cuộc sống độc thân tới già. Nguyên nhân là do lá số Tử Vi có các cách cục nói trên. Đây là số mệnh, rất khó thay đổi, người có kiến giải cao minh thường vui vẻ trước hoàn cảnh này. Nhiều người thường cho đó là duyên âm, vong theo nên nhờ các thầy cúng bái lễ lạt, tốn kém rất nhiều nhưng kết quả vẫn không thể cải thiện, thay đổi tình hình, rốt cuộc hao tiền tốn của, lãng phí công sức vô ích. Lập gia đình chỉ là một biến số chỉ liên quan đến hạn mà thôi, không phải là sự kiện xảy ra mãi mãi trong đời. Vì thế, xem việc lập gia đình là xem hạn, tức xét tất cả các cung ở thể đồng cung, xung chiếu, tam hợp, nhị hợp và cả nhị hại với cung Phu Thê. Khi nào đại hạn, lưu niên đại hạn hoặc tiểu hạn vào đúng các cung này thì việc lập gia đình mới xác quyết. Tất cả các yếu tố này đều thể hiện rõ việc lập gia đình qua các nhánh tam hợp của chúng lưu niên đại hạn và lưu niên tiểu hạn. Muốn xét hôn nhân, phải kết hợp nhiều loại sao liên hệ các sao chỉ tin vui, các sao tình duyên, các sao cưới hỏi, các sao hao tài. Cần nhất là trong hạn đó, phải tránh các sao cản trở. 1. Tìm đại hạn - Nếu cung Phu Thê có chỉ số cung là 2_ ví dụ mệnh Thủy nhị cục là 22 thì thường lập gia đình không trễ hơn 31t tuy nhiên vẫn có 1 số trường hợp đặc biệt, mình sẽ đề cập ở phần tình trạng không chồng không vợ. - Nêu cung Phu Thê có chỉ số cung là 10_ ví dụ mệnh Thủy nhị cục là 102 thì thường lập gia đình không sớm hơn 31t. Đây chỉ là nhận định sơ bộ, cần kiểm chứng lại qua các đại vận kế cận liền kề. Phải cân nhắc các đại vận trươc đó để tránh lầm lẫn do có 1 số lá số hạn xảy ra ở đại vận trùng cung Huynh, chứ không phải cung Phu. Tìm đại vận có hôn nhân qua phụ tinh và chính tinh. Phụ tinh đóng vai trò quan trọng hơn chính tinh. a. Qua phụ tinh - Sao cưới hỏi Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức - Sao hỉ tín, sao trợ hôn * Thiên hỷ, Hỷ thần * Thanh Long, Lưu Hà * Thanh Long, Hoá kỵ * Thiên Mã, Tràng Sinh * Thiên Mã, Điếu khách, Thiên Khốc * Ân quang, Thiên Phúc * Tả Phù, Hữu Bật * Long Đức, Nguyệt đức - Sao tình duyên, sao tình dục, yêu đương * Đào hoa, Hồng Loan * Thiên riêu, Thai * Mộc Dục, Hoa Cái - Sao chỉ bộ phận nhục thể của nữ và nam * Văn Xương, Văn Khúc * Kình Dương Tuy nhiên, ý nghĩa của các sao này khá yếu, cần thêm sự bổ trợ của các phụ tinh, chính tinh báo hỉ khác. Thường những cặp lập gia đình tại các đại vận có 3 sao trên luôn có sự chung sống sống thử trước khi tổ chức lễ cưới thật sự, hoặc theo đuổi tình dục trước rồi mới tính đến hôn nhân. - Sao chỉ trạng thái khi ta có lập gia đình * Thiếu Dương + Thiên Không b. Qua chính tinh - Thái Dương miếu, vượng. Thái Dương tuy có ở thế hãm địa nhưng khi đi chung với Lộc Tồn, hoặc với nhiều sao trợ hôn cũng báo hỉ sự - Thái Âm miếu, vượng. Thái Âm tuy có ở thế hãm địa nhưng khi đi chung với Lộc Tồn, hoặc với nhiều sao trợ hôn cũng báo hỉ sự. - Thiên Lương - Thiên Cơ hoặc Thiên Đồng chủ sự thay đổi - Tham Lang - Liêm Trinh. - Thiên Phủ + TỬ - Thất Sát c. Qua sao hối thúc Thông thường các hành Hỏa và Bắc đẩu là hai loại sao hối thúc, khiến hôn nhân dễ thành. Đặc biệt là những sao Phi Liêm, Hỏa Tinh, Linh Tinh có tác dụng hối thúc. Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không chỉ sự bất thần, đột ngột. - Khi đại vận VCD có các sao này, được xung chiếu bởi Thái Dương, Thiên Lương thì càng xác quyết. - Đại vận có sao hối thúc cần đi kèm sao chỉ quan hệ giao hợp nam nữ như Xương Khúc, Kình Dương, Thai, hoặc sao hao tài song Hao, Hóa Lộc, hoặc sao Thiên Khôi, Thiên Việt chỉ sự vừa ý, thì mới mang ý nghĩa hỉ sự. Tuy nhiên những hôn nhân xảy ra vào đại vận thế này cũng ít khi tốt đẹp. Lưu ý - Ngày nay, hôn nhân chủ yếu là do 2 người quyết định, nên đại vận có hôn nhân không được có các sao Cô Thần hành Thổ, Quả Tú hành Thổ, hoặc Đẩu Quân hành Hỏa, vì ba sao này chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trử việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp những sao tình duyên bù chế. Hành của cung đại vận cần xét không nên sinh ra hành của các sao này. Ví dụ Đại vận 16t-25t, tại cung Tuât có Quả Tú, nhưng không gây nguy hại, hôn nhân vẫn thành do Quả Tú cùng hành với cung Tuất. 2. Tìm năm - Tìm qua các sao chỉ lễ cưới Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức. Mỗi lá số, ta đều có 2 dạng vòng tam hợp 1 vòng tam hợp có chứa Thiên Đức + Phúc Đức mà mọi người thường gọi là tam hợp Đào Hồng Hỷ, và 1 vòng tam hợp Long Phượng Thanh Long không nhất thiết phải có đủ 3 sao này. Có 1 số trường hợp cả 2 vòng tam hợp này đều mang ý nghĩa hôn sự yếu ớt, bị nhiều sao cản trở hôn nhân gây hại, thì việc kết hôn ta tìm theo vòng tam hợp có chứa Quang Quý và các sao hỉ sự trợ hôn. Đám cưới có Quang Quý thường tình cảm đôi lứa khi tiến đến hôn nhân có phần khiên cưỡng, không nồng thắm. Ở lá số 2 đời vợ chồng, ta tìm hạn hôn nhân lần đầu qua tam hợp này. Ta sẽ thấy khi ấy Quang Quý hoặc năm có hôn sự luôn đi kèm, đồng cung cùng Khốc Hư, Phá, Cô, Quả, Điếu Khách, Tang Hổ, Phá Toái, Phục Binh. - So sánh vòng tam hợp nào tốt đẹp hơn thì chọn. Đối với trường hợp đương số 2 đời chồng/ vợ, đời thứ 1 ta chọn hạn có tam hợp xấu hơn, đời thứ 2 chọn tam hợp tốt đẹp hơn. - Năm âm lịch có hôn sự nằm 1 trong 3 gốc tam hợp này, và phải ở 1 trong các vị trí ảnh hưởng đến cung Phu Thê như đồng cung, xung chiếu, tam hợp, nhị hợp, nhị hại. Chi năm là lưu niên tiểu hạn an tại cung đó. - Khi lưu niên tiểu hạn không ở các vị trí này thì 1 trong 3 gốc tam hợp của lưu đại hạn phải ảnh hưởng đến cung Phu, phải ở các vị trí này thì mới có hôn sự. Đây là ý nghĩa mà mọi người thường nói “tiểu hạn và lưu đại hạn trùng phùng” - Cưới theo tam hợp Thiên Đức + Phúc Đức, đôi lứa tự lo liệu việc cưới hỏi, từ vật chất đến việc tổ chức lễ tiệc. - Cưới theo tam hợp Long Trì, Phượng Các, Thanh Long * Tam hợp là Dần + Ngọ + Tuất +, trùng cung Phúc Di Phu, có sự hỗ trợ về mặt tài chính lẫn việc lo liệu của họ nhà chồng/ vợ, mà điển hình là người nam, người cha chồng/ cha vợ. * Tam hợp là Thìn + Thân + Kim +, ta cũng luận tương tự. - Kiểm chứng lại gốc lưu niên tiểu hạn tìm được qua lưu đại hạn. Các nhánh tam hợp của lưu đại hạn đều phản ánh hỉ sự, và đều gây ảnh hưởng đến cung Phu Thê qua xung chiếu, nhị hợp, nhị hại, không nhất thiết phải ở thể tam hợp với Phu Thê. Lưu đại hạn là cung ứng với tuổi dương lịch của đương số vào năm ta cần xét có cơ lập gia đình. - Căn cứ vào sao chính tinh tọa thủ tại cung đại vận ta đã xác định được ở phần 1. * Nếu là sao Bắc đẩu, 5 năm cần chú ý để xét hạn là 5 năm đầu của đại vận. * Nếu là sao Nam đẩu, là 5 năm cuối. * Trường hợp có cả Nam đẩu và bắc đẩu tọa thủ, dùng ngũ hành để tính sự tương khắc, tương sinh giữa hành của sao chính tinh và hành của cung đại vận. Ưu tiên chọn sao được hành cung tương sinh, hoặc không bị tương khắc. * Trường hợp cung đại vận VCD, ta dùng chính tinh tại cung xung chiếu để xét. Nếu cung xung chiếu có cả 2 chính tinh thì cũng áp dụng ngũ hành như trên. Sao Bắc Đẩu -Tử Vi -Liêm Trinh -Vũ Khúc -Thái Âm -Tham Lang -Cự Môn -Phá Quân Sao Nam Đẩu -Thiên Đồng -Thiên Cơ -Thái Dương -Thiên Phủ -Thiên Tướng -Thiên Lương -Thất Sát - Đổi năm lưu niên tìm được sang năm dương lịch rồi lấy lá số an theo năm đó để xem và tìm nguyệt hạn, nhật hạn. - Khi cung Phụ mẫu ở vào thể nhị hại hoặc nhị hợp, lại có các sao hối thúc tọa thủ thì hôn nhân năm đó xảy ra nhanh hơn dự tính ban đầu của đôi lứa. Phụ Mẫu an tại cung - thì bị hối thúc bởi mẹ chồng/ mẹ vợ, cung + thì cha chồng/ cha vợ. 3. Tìm nguyệt hạn - Việc tìm tháng cũng dựa chủ yếu trên sao chỉ lễ cưới Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức hoặc Nguyệt Đức. Nếu có thêm sao hao tài Tiểu Hao, Đại Hao, Hóa Lộc thì càng xác quyết. Ba sao này vừa chỉ các chi phí vừa chỉ sự thay đổi, ngụ ý là thay đổi trong cuộc đời. - Tuy nhiên, cần chú ý các sao bất lợi cho hôn nhân như sau * Cô Thần, Quả tú hay Đẩu Quân Ba sao này chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trửo việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp những sao tình duyên bù chế. * Thái Tuế, Quan phù, Quan phủ Thái Tuế đối nghĩa với Đào, Hồng, vì vậy làm cản trở sự kết duyên. Quan phù, Quan phủ chỉ sự phản bội, sự ruồng dãy trong tình yêu. * Phục Binh Sao này chỉ sự cản trở, thường là bắt nguồn từ cha mẹ bên trai hay gái không tán thành duyên số cho đôi trẻ. Nếu sao này an tại cung - chỉ sự chê bai lúc đầu về đối tượng hôn phối từ phía người mẹ của đương số. Nếu sao này an tại cung + là từ phía người cha của đương số. Mặt khác, sao này còn chỉ cả sự phá hại, rình rập, bắt ghen, bắt xấu. * Địa Không, Địa Kiếp hãm địa Không Kiếp hãm chỉ sự xui xẻo Triệt mọi phương diện. Ứng vào hạn của hôn nhân Không Kiếp hãm làm cho việc cưới hỏi bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi khi đưa đến hậu quả tai hại cho tính mạng. * Phá Quân hãm địa Sao này không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ bị tan vỡ. Ngoài ra, nếu hạn rơi vào cung nào có Chính Tinh hãm địa thì cũng bất lợi cho tình duyên. * Tuần, Triệt Dù riêng rẽ hay đồng cung mà Tuần, Triệt đi chung với các sao hôn nhân kể trên sẽ có tác dụng phá vỡ, làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn, đó thì sự bế tắc quan trọng. Trong trường hợp hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó khăn, trắc trở xảy ra trong buổi đầu hôn nhân sẽ đến chậm. Tuy nhiên nguyệt hạn vẫn an tại cung này, Tuần Triệt chỉ mang ý nghĩa gây chậm trễ về nhật hạn mà thôi. - Cung ta cần chọn để xác định nguyệt hạn phải có Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức, Nguyệt Đức Nguyệt Đức bắt buộc phải có các sao hỉ tín, trợ hôn đi kèm, và không bị gây hại bởi các sát tinh thì mới mang ý nghĩa hôn sự, nếu không chỉ là nguyệt hạn về tháng có lễ dạm hỏi, nói chuyện giữa 2 bên thông gia thôi - Cung cần chọn không nên có các sao gây bất lợi hôn nhân kể trên, hoặc có Thiên Hư, Tuế Phá, Phá Toái, Tử Phù. Nếu có, các sao này cần bị khắc chế bởi hành cung, hoặc cùng hành với hành cung thì mới không gây ảnh hưởng đến nguyệt hạn này. Cung này mình gọi là cung để tránh lầm lẫn. - Từ cung nguyệt hạn đã chọn, ta sẽ có 2 chỉ số đều mang tính âm lịch chỉ số tiểu hạn tại cung và chỉ số nguyệt hạn an theo năm dương lịch có hôn sự. Ta phải xét lại lần nữa để chọn 1 trong 2 chỉ số này => Đây mới là nguyệt hạn cần tìm. - Tháng Dần tương ứng với tháng 1 âm lịch. Từ chỉ số nguyệt hạn, ta đổi sang tháng dương lịch của năm đó có thể dùng trình target="_blank để tra nhanh và chính xác hơn. Lá số có 12 cung, tương ứng với 12 tháng dương lịch. Từ chỉ số tháng dương lịch đã đổi sang, xét cung có chỉ số tháng tương ứng. Nếu ý nghĩa chỉ lễ cưới của cung này rõ rệt hơn cung , ta phải chọn cung này và ngược lại. - Khi chọn cung , ta đổi chi tháng hôn nhân tý, sửu, dần…. có sẵn trên lá số sang tháng dương lịch. - Khi chọn cung kia, chỉ số nguyệt hạn tại cung này sẽ là tháng âm lịch có hôn sự. 4. Tìm nhật hạn - Ngày có hôn lễ sẽ gây ra hao tài, nên các sao cần quan tâm để tìm nhật hạn là Tiểu Hao, Đại Hao, Hóa Lộc. - Trước tiên, ta cũng xác định khoảng 15 ngày âm lịch nào cần chú ý, dựa trên chính tinh an tại cung của nguyệt hạn đã tìm được ở bước 3. Nếu có Tuần Triệt, cho dù Bắc đẩu tinh tọa thủ, nhật hạn cũng vẫn rơi vào 15 ngày cuối của tháng. Chọn theo thứ tự các ưu tiên sau Phần này hơi trừu tượng 1 chút 1/ Phải thấy được sự hiện hữu của các sao này qua cung đó. 2/ Không bị khắc, làm yếu đi bởi hành cung. Không được sinh xuất từ hành cung. 3/ Không bị các sao gây bất lợi cho hôn nhân đồng cung. Ví dụLá số có Tiểu Hao tại cung Tỵ, Đại Hao tại Hợi, Hóa Lộc tại Dần, lưu niên tại Dần là Thìn. Do Tiểu Hao cùng hành Hỏa với cung Tỵ, nên tuy có mặt, nhưng ta không thể thấy sự hiện diện của nó tại cung Tỵ. Đại Hao ở cung Hợi có thể thấy được do khác hành với cung Hợi, nhưng lại bị khắc chế làm yếu đi. Duy có Hóa Lộc ở Dần là không bị suy chuyển, có thể thấy được sự hiện diện của sao này tại Dần => Nhật hạn tại cung Dần. Chi nhật hạn là ngày Thìn ngày cưới. - Từ nhật hạn tìm được, ta dùng trình để kiểm tra lại và đổi sang ngày dương lịch cần tìm. Hiện nay, mọi người thường cưới hỏi vào thứ 7, chủ nhật nên ngày tìm được nếu không trùng cuối tuần, cần dời lại 1 chút. Lưu ý - Hiện nay, việc xem và tổ chức cưới hỏi đúng y theo nguyên tắc “có kiêng, có lành”, với những đôi lứa không thực hiện tuyệt đối, ngày cưới thật sự của họ khi nghiệm lý lại ta sẽ thấy không đúng nguyệt hạn và cả nhật hạn. Tuy nhiên, tháng có hôn sự, xét lại, vẫn đảm bảo nguyên tắc có sao hỉ tín, trợ cảm ơn bởi Memphisto79, sunflower, mimi1986, Xuan-xinh, huongcoi, Anha, nt1991, simplewoman, Dai Hai Thuy, gracedo, teamoon, kiba_119, Minh Hoài, tutruongdado, Hoa Chau, Retrats, babymoi, minhnguyet cu Hoi, hoahuyen, Ivy_nguyen, Tr_ThanhThuy, Phở Áp Chảo, mailinhD03

lá số không lập gia đình